Nuôi cá bớp – Phần 2.1 – Dinh dưỡng và cho ăn

Nuôi cá bớp – Phần 2.1 – Dinh dưỡng và cho ăn

Kết quả cho thấy rằng việc sử dụng các axit amin làm chất kích thích cho ăn được bổ sung vào chế độ ăn dựa trên protein đậu nành ở mức 20% có thể thu được kết quả ăn vào, tỷ lệ sống, tăng trọng và FCR tốt nhất.

210 - Tác giả: Bor-Shing L. & Chen, T.I. (2004). Tác dụng kích thích sức ăn của nucleotide và các hợp chất liên quan trên cá giò con (Rachycentron canadum). Tạp chí Nghiên cứu Thủy sản Đài Loan, 12 (2), 49-55.

 

Tác động kích thích sức ăn của nucleotide và các hợp chất liên quan của chúng trên cá giò con (Rachycentron canadum) đã được nghiên cứu. Trong số các nucleotide này, chỉ inosine-5'-monophosphate (IMP), guanosine-5'-monophosphate (GMP), uridine-5'-monophosphate (UMP) và adenosine-5'-diphosphate (ADP) kích thích sức ăn cao trên cá giò con. Ngược lại, các nucleoside, bazơ nitơ và ribose không hiệu quả. Hàm lượng tối ưu của IMP, GMP, UMP, và ADP đối với cá giò giống là 2.9, 8.1, 2.8 và 6.6 mmol/kg thức ăn viên khô. Tác động hiệp đồng của các nucleotide này chỉ hiệu quả khi bổ sung theo từng cặp. Hiệu ứng hiệp đồng biến mất khi 4 nucleotide được bổ sung cùng nhau.

 

 

211 - Tác giả: Bor-Shing L. & Chen, T.I. (2007). Ảnh hưởng của việc bổ sung axit amin và thay thế protein đậu nành đến sự tăng trưởng của cá giò con (Rachycentron canadum). Tạp chí Nghiên cứu Thủy sản Đài Loan, 15 (1), 55-61.

 

Nghiên cứu này đã so sánh tác dụng của các chế độ ăn thử nghiệm tăng cường axit amin (L-methionine, L-proline, betain hydrochloride) có chứa hàm lượng protein các loại đậu nành đối với cá giò con.

 

Trong thử nghiệm bổ sung một axit amin vào khẩu phần protein đậu nành nguyên chất như là chất kích thích sức ăn, kết quả cho thấy tỷ lệ thức ăn được cá ăn tốt nhất lần lượt là là 1,84% đối với L-methionine được thay thế ở mức 1,5%; 4,57% đối với L-proline được thay thế ở mức 1,15% và 1,35% đối với betain hydrochloride thay thế ở mức 0,14%.

 

Các axit amin tăng cường (L-methionine, L-proline, betain hydrochloride) làm chất kích thích cho ăn đã được thêm vào khẩu phần thay thế protein đậu nành để tìm ra mức thay thế tốt nhất cho cá giò con. Kết quả cho thấy tỷ lệ sống vẫn duy trì ở mức 100% khi cho cá ăn khẩu phần thay thế đạm đậu nành ở các mức 20%, 60% và 80% trong thời gian 3 tuần. Tỷ lệ ăn vào cao nhất là 6,2% khi cho cá ăn với khẩu phần có hàm lượng đạm thay thế đậu nành là 0% và tỷ lệ ăn vào thấp nhất là 1,8% khi cho cá ăn với chế độ ăn thay thế đạm đậu nành là 100%. Tuy nhiên, mức tăng trọng và hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) tốt nhất xảy ra ở mức thay thế protein đậu nành là 20%. Tỷ lệ lần lượt là 263% và 0,88.

 

Kết quả cho thấy rằng việc sử dụng các axit amin làm chất kích thích cho ăn được bổ sung vào chế độ ăn dựa trên protein đậu nành ở mức 20% có thể thu được kết quả ăn vào, tỷ lệ sống, tăng trọng và FCR tốt nhất.

 

 

Hình - Một sản phẩm L - Proline thương mại tại Anh.

 

213. Chang, C.F., Yang, J.H., Chou, R.L., Her, B.Y., Chang, S.L., Hsu, C.H., & Chen, T.I. (2008). Ảnh hưởng của chế độ ăn Beta - 1,3 - 1,6 - glucan đối với đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu của cá bớp (Rachycentron canadum). Tạp chí Nghiên cứu Thủy sản Đài Loan, 16 (1), 87-95.

 

Nghiên cứu này được thực hiện để xem xét ảnh hưởng của chế độ cho ăn β - 1,3 - 1,6 - glucan (BG) từ nấm Schizophyllum commune lên phản ứng miễn dịch bẩm sinh ở cá bớp. Cá bớp có trọng lượng từ 50 - 80g được cho ăn theo chế độ cơ bản và bổ sung 0 (nhóm đối chứng) hoặc 0,5% BG (nhóm glucan) trong 60 ngày. Nồng độ anion superoxide (O2-), superoxide dismutase (SOD) và hoạt tính lysozyme được phân tích ở các ngày 0, 1, 3, 6, 12, 20, 30, 40, 50 và 60 để kiểm chứng hiệu quả của BG.

 

Kết quả cho thấy nồng độ của O2- và SOD và hoạt tính của lyszoyme trong cá giò ở nhóm BG cao hơn so với nhóm đối chứng. Chúng đạt được mức cao nhất vào ngày thứ 12, 20 và 24 sau khi cho ăn. Tuy nhiên, nồng độ O2- vào ngày 30, SOD và hoạt tính của lysozyme vào ngày 40 của cá ở nhóm BG giảm trở lại mức tương tự như nhóm đối chứng.

 

Kết quả trong nghiên cứu này cho thấy bổ sung 0,5% BG trong 6 ngày giúp tăng cường khả năng miễn dịch của cá bớp, nhưng sử dụng BG kéo dài sẽ không làm tăng khả năng miễn dịch của cá bớp. Do đó, phải cẩn thận để phát huy tối đa hiệu quả của nó với thời gian thích hợp.

 

 

Hình - nấm Schizophyllum commune

 

NguồnUriel Rodriguez Estrada, Fanny Ayumi Yasumaru, Albert G. J. Tacon & Daniel Lemos. COBIA (Rachycentron canadum) A SELECTED ANNOTATED BIBLIOGRAPHY ON AQUACULTURE, GENERAL BIOLOGY & FISHERIES 1967 - 2015

 

Lược dịch bởi: NGỌC HÂN MAI - VPAS JSC