Nuôi và sản xuất giống cá chim trắng tại Batam

Nuôi và sản xuất giống cá chim trắng tại Batam

Cá chim trắng (Trachinotus blochii, Lacepede) là loài cá nổi sống ở biển khơi, chúng dễ dàng được thuần hóa và nuôi trồng tại các vùng biển nhiệt đới.

Cá chim trắng thuộc họ Carangidae (họ cá khế), sống ở khu vực rạng san hô ở độ sâu khoảng 07 mét. Cá con thường được nhìn thấy ở các vùng cát hoặc cát pha sét gần cửa sông. Ở giai đoạn con con chúng thường có xu hướng sống theo bầy, ở giai đoạn trưởng thành cuộc sống đơn độc là lựa chọn của chúng. Động vật thân mềm và các loại động vật không xương sống khác là thức ăn chính của chúng trong tự nhiên và chúng cần ít nhất 03 năm để thành thục sinh dục.

 

Trung tâm phát triển thủy sản biển tại Batam – Indonesia đã nuôi và sản xuất giống thành công loài cá chim trắng này từ năm 2008 để cung cấp giống cho nghề nuôi tại địa phương và giảm sự phục thuộc vào con giống nhập từ nước ngoài.

 

Cá chim trắng dễ nuôi, phát triển nhanh, ít bệnh, tỷ lệ sống cao, khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi của môi trường tốt và có thể giữ được trong lồng ở kích thước 3 cm.

 

Quản lý cá bố mẹ

 

Ương, nuôi và thu hoạch ấu trùng là các giai đoạn quan trọng cho sự thành công của sản xuất giống cá chim. Cá bố mẹ được tuyển chọn từ cá nuôi trong các lồng nổi, có trọng lượng lớn hơn 1 kg/cá thể, thân hình cân đối, không có bất cứ khuyết tật cơ thể nào, tốc độ tăng trưởng tốt…

 

Cá bố mẹ sau khi tuyển chọn được nuôi vỗ với thức ăn là cá tươi, thức ăn tổng hợp có bổ sung vitamin tổng hợp, … với khoảng 3 – 5% trọng lượng thân. Thay nước khoảng 400% trong 24 giờ, duy trì pH trong khoảng 7.4 – 7.8, hàm lượng oxy hòa tan từ 4 – 6 ppm, nhiệt độ nước từ 29 – 31 độ C và độ mặn từ 30 – 32 phần ngàn.

 

Kỹ thuật sinh sản

 

Trong bể để, mật độ cá thể bố mẹ là 10 con/10 m3, với tỷ lệ đực cái là 1:1, cá đực thường nhỏ hơn cá cái. Sự sinh sản của cá chim trắng không theo chu kỳ âm lịch hàng tháng.

 

Kích thích sinh sản cá chim trắng bằng nội tiết tố HCG. Liều tiêm cho cá thể bố mẹ là 250 UI/kg và fibrinogen với liều 50 UI/kg. Việc tiêm kích thích sinh sản được thực hiện 02 lần trong 02 ngày. Thông thường cá sẽ đẻ vào ngày thứ ba với tỷ lệ khoảng 60 – 70%, trứng có kích thước từ 800 – 850 micron.

 

Nuôi ấu trùng

 

Bể nuôi ấu trùng có thể tích khoảng 6 m3, mật độ là 200.000 trứng/bể hoặc 20 trứng/lit. Tỷ lệ nở của cá chim trắng vào khoảng 65 – 75%. Hệ thống dòng chảy duy trì ở mức 3 lít/phút và tăng lên thành 10 lit/phút vào cuối giai đoạn ấu trùng.

 

 

Hình trứng cá chim đã thụ tinh.

 

Thực vật phù du Nannochloropsis sp được dùng trong 14 ngày đầu tiên ở mức 200 lít vào buổi sáng và buổi chiều. Việc làm sạch đáy bể cần bắt đầu vào ngày thứ 10 để duy trì chất lượng nước và phải được thực hiện hai ngày một lần.

 

Ấu trùng được nuôi bằng thức ăn tươi sống (luân trùng Brachionus plicatilisArtemia) và thức ăn nhân tạo. Luân trùng được cho ăn từ ngày thứ ba đến ngày thứ mười bốn với khẩu phần từ 5-15 con/ml và cho ăn ba lần trong một ngày (sáng, chiều và tối).

 

Vào ngày thứ 10, thức ăn viên được bổ sung vào khẩu phần ăn ngoài luân trùng, kích thước viên thức ăn khoảng 250-300 micromet. Artemia được cung cấp vào ngày mười bốn ở mức 0,25 con/ml.

 

Vào ngày thứ mười lăm, nên dừng cho ăn luân trùng và tăng số lượng thức ăn viên, tần suất cho ăn là mỗi 1-2 giờ/lần. Vào ngày thứ mười tám, số lượng Artemia cũng nên được tăng lên thành 0,5 con/ml và nên ngừng ở ngày 22.

 

Việc thu hoạch ấu trùng có thể được tiến hành ở ngày 21 bằng cách sử dụng lưới với kích thước 500 microns. Sau khi thu hoạch ấu trùng được phân loại và ước tính tỷ lệ sống. Thông thường tỷ lệ sống là khoảng 20-25%.

 

Ương cá

 

Mật độ ương cá chim trắng sau giai đoạn ấu trùng nên vào khoảng 20 con/lit. Thay nước hàng ngày khoảng 200%, siphone 2 lần/ngày vào buổi sáng vào chiều để làm sạch nền đáy.

 

 

Hình cá chim con

 

Thức ăn viên được dùng trong giai đoạn này và kích thước viên thức ăn thì tùy vào kích thước miệng cá. Lượng thức ăn/ngày có thể đạt tới mức 1kg/ngày đặc biệt vào ngày thứ 30. Việc phân loại cá tùy thuộc vào tốc độ tăng trưởng, tuy nhiên nên thực hiện trong khoảng thời gian từ 3 – 4 ngày.

 

Cá chim trắng có tốc độ tăng trưởng khá tốt, bình quân đạt 1mm/ngày ở giai đoạn ấu trùng.

 

Bảng tốc độ tăng trưởng của cá chim

 

 

Cũng giống như các loài cá biển khác – chẳng hạn như cá mú – dị hình luôn là một vấn đề ở giai đoạn này. Đối với cá chim trắng, tỷ lệ dị hình vào khoảng 5%.

 

Trước ngày xuất trại để thả nuôi, nên dừng cho ăn trước 1 ngày để giảm trao đổi chất, qua đó có thể giúp chất lượng cá tốt hơn, tỷ lệ sống cao hơn…khi vận chuyển. Nhiệt độ nước khi đóng gói vận chuyển nên duy trì ở mức 25 – 27 độ C và tỷ lệ nước:oxy nên là 1:3 với mật độ 200 cá con/lit nước.

 

Khó khăn

 

Mặc dù cá chim trắng là loài dễ nuôi, nhưng không vì thế mà không có khó khăn. Chúng là loài nhanh nhẹn, bơi rất nhanh, vì vậy mật độ thả cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng sao cho đảm bảo có nhiều khoảng không gian hoạt động cho chúng và qua đó giảm tối đa stress cho cá trong điều kiện nuôi nhốt.

 

Quản lý chất lượng nước thật tốt là điều kiện tiên quyết để duy trì sức khỏe và sự tăng trưởng cho cá, nếu chất lượng nước không tốt, cá dễ dàng bị bệnh.

 

Tham khảo: https://enaca.org