0-9
A
B
C
D
E
F
G
H
I
J
K
L
M
N
O
P
Q
R
S
T
U
V
W
X
Y
Z

Current Liabilities

Lĩnh vực :

Nợ ngắn hạn

 

Nợ ngắn hạn là khái niệm để chi các khoản nợ ngắn hạn đối với các nhà cung cấp, ngân hàng v.v...trong phạm vi một năm.

 

Nợ ngắn hạn - danh từ, trong tiếng Anh được dùng bởi cụm từ Current Liabilities, trong một vài trường hợp có thể dùng cụm từ Short term Solvency.

 

Nợ ngắn hạn (hay tín dụng ngắn hạn) là loại tín dụng có thời hạn đến 1 năm và được sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động tạm thời của các doanh nghiệp, phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình.

 

Các chỉ tiêu nợ ngắn hạn

 

Các chỉ tiêu này được sử dụng để xác định khả năng đáp ứng các nhu cầu chi trả phát sinh trong vòng 1 năm của doanh nghiệp. Với mục đích như vậy, các chỉ tiêu này sẽ tập trung vào khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp và nguồn để trả các khoản nợ này là vốn lưu động.

 

Các chỉ tiêu trả nợ ngắn hạn bao gồm:

 

Hệ số thanh toán hiện thời (Current ratio)

 

Hệ số thanh toán hiện thời = Tài sản lưu động/Nợ ngắn hạn.

 

Current ratio = Current assets/Current liabilities. 

 

Đối với những chủ nợ ngắn hạn, tỉ lệ này càng cao càng tốt vì nó phản ánh khả năng đáp ứng kịp thời các nhu cầu chi trả của doanh nghiệp. Tuy nhiên đối với doanh nghiệp, khi tỉ lệ này quá cao thì có thể là một dấu hiệu cho thấy việc đầu tư vào các tài sản lưu động còn thiếu hiệu quả.

 

Ngược lại, khi tỉ lệ này giảm, đó có thể là một dấu hiệu cho những nguy cơ gặp khó khăn về tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên cần so sánh thêm tỉ lệ này với các tỉ lệ trong quá khứ và tỉ lệ của các doanh nghiệp cùng ngành để có đánh giá chính xác. Trong điều kiện thông thường, tỉ lệ này bằng 1 được coi là một con số tối ưu.

 

Hệ số thanh toán nhanh (Quick or Acid-test ratio)

 

Khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp được phản ánh thông qua chỉ tiêu tài chính sau:

 

Hệ số thanh toán nhanh = Tiền và chứng khoán ngắn hạn/Nợ ngắn hạn.

 

Quick ratio = Quick assets/Current liabilities.

 

Tiền và chứng khoán ngắn hạn (Quick assets): Bao gồm các tài sản lưu động có khả năng chuyển hóa thành tiền mặt một cách nhanh chóng. Trong các tài sản lưu động, hàng tồn kho/dự trữ là các tài sản có tính thanh khoản thấp nhất. Hơn nữa, giá trị ghi sổ của hàng tồn kho/dự trữ nhiều khi không nhất quán với thị giá của nó bởi vì trong quá trình tìm cất trữ hàng hóa có thể mất, hỏng hay suy giảm chất lượng.

 

Ngoài ra một lượng hàng tồn kho quá lớn còn là dấu hiệu không tốt trong ngắn hạn vì lượng hàng tồn kho quá lớn có thể là do doanh nghiệp dự đoán quá cao về khả năng bán hàng dẫn đến sản xuất quá nhiều hoặc mua quá nhiều hàng dự trữ, hoặc chậm tiêu thụ do thị trường biến động. 

 

Vì những lí do đó mà khi muốn đánh giá khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp người ta loại trừ đi phần hàng tồn kho trong tài sản lưu động. Nói cách khác: Tiền và chứng khoán ngắn hạn = Tài sản lưu động - Hàng tồn kho (Quick assets = Current assets - Inventory).

 

Như vậy, việc dùng tiền mặt để mua hàng hóa dự trữ chỉ làm giảm hệ số thanh toán nhanh (Quick ratio) chứ không làm thay đổi hệ số thanh toán hiện thời (Current ratio).

 

Chỉ tiêu vốn lưu động ròng (Net working capital)

 

Vốn lưu động ròng = Tài sản lưu động - Nợ ngắn hạn.

 

Như vậy, vốn lưu động ròng là chênh lệch giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn, do đó, xét về quan hệ tín dụng thì vốn lưu động ròng chính là phần tài sản lưu động được tài trợ bằng nguồn vốn có tính chất trung và dài hạn.

 

(Theo Giáo trình Ngân hàng Thương mại, NXB thống kê).

 

Theo https://vietnambiz.vn